Một số nguyên liệu có thể thay thế oxit Kẽm trong chăn nuôi lợn

Một số nguyên liệu có thể thay thế oxit Kẽm trong chăn nuôi lợn

Kẽm (Zn) là chất vi khoáng có tầm quan trọng trong dinh dưỡng động vật nói chung và vật nuôi nói riêng vì các enzym trong cơ thể (có chứa Zn) đều liên quan đến các quá trình trao đổi chất (như trao đổi bột đường, trao đổi protein, sinh tổng hợp protein).

Trong chăn nuôi lợn, nhất là với lợn con, thức ăn có bổ sung Zinc oxid (ZnO) giúp đề phòng ỉa chảy, kích thích tăng trưởng. Khi dùng ZnO, lượng Zn không được cơ thể hấp thu hết sẽ bài thải ra ngoại cảnh, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến vật nuôi và sức khỏe con người.

Với lợn con, thức ăn có bổ sung Zinc oxid (ZnO) giúp đề phòng ỉa chảy, kích thích tăng trưởng

Để giải quyết sự bất lợi này, gần đây (tháng 1/2018), Trường Đại học Copenhagen (Đan Mạch) đã có một nghiên cứu thay thế ZnO bằng một vài nguyên liệu khác rẻ tiền mà vô hại.

Họ đã dùng khô dầu (KD) hạt cải dầu (HCD) được ủ lên men trước với lactobacillus, có thể thay thế 2.500 ppm Zn. Từ kết quả nghiên cứu này, Liên minh châu Âu quyết định loại dần ZnO ra khỏi khỏi khẩu phần nuôi lợn từ nay đến 2022. Ngoài ra, họ cũng muốn tìm hiểu KD HCD được bổ sung các loài rong biển liệu có tác dụng phòng ngừa bệnh ỉa chảy của lợn con hay không.

Acid lactic do vi khuẩn sản sinh ra thường được xem như là những chất bổ sung probiotic nhằm tăng cường sức khỏe hệ thống ruột.

Những thí nghiệm bắt đầu trước khi cai sữa

Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm những thực liệu này trong khẩu phần lợn con từ 10 ngày trước khi cai sữa đến 91 ngày sau cai sữa (giai đoạn khối lượng lợn trung bình 33 kg). Mục đích: tìm hiểu ảnh hưởng của thực liệu đến mức ăn được và tốc độ sinh trưởng cho đến kết thúc pha sinh trưởng và khi giết thịt. Thí nghiệm được tiến hành tại trại lợn thương phẩm Łosice, Ba Lan, gồm 9 công thức khẩu phần khác nhau (mỗi công thức đã dùng 50 lợn con được nhốt trong cùng một ô chuồng), như sau:

  1. Không bổ sung Zn (Đối chứng âm) ;
  2. ZnO được bổ sung với hàm lượng 2.500 ppm (phần triệu) (Đối chứng dương) ;
  3. Bổ sung 8% KD HCD (tính theo vật chất khô – VCK) được ủ lên men trước;
  4. Bổ sung 10% KD HCD (tính theo VCK) được ủ lên men trước;
  5. Như lô 4 + 0,6% (tính theo VCK) sản phẩm từ tảo nâu;
  6. Như lô 4 + 1,0% (tính theo VCK) sản phẩm từ tảo nâu;
  7. Bổ sung 12% (tính theo VCK) KD HCD được ủ lên men trước;
  8. Bổ sung 15% (tính theo VCK) KD HCD được ủ lên men trước;
  9. Bổ sung 25% (tính theo VCK) KD HCD được ủ lên men trước.

Các thực liệu là những sản phẩm của Công ty Fermentation Experts (Đan Mạch). Khô dầu HCD được ủ lên men trước có bán sẵn với thương hiệu EP100i và sản phẩm từ tảo nâu có thương hiệu là EP900.

Đối với những lô ăn KD HCD được ủ lên men trước, chỉ tiêu tăng khối lượng ngày có tăng hơn so với lô đối chứng âm (không có Zn), kể từ 10 ngày trước khi cai sữa cho đến lúc xuất mổ thịt. Ngoài ra, lông nhung và các enterocytes (các tế bào nằm giữa ruột non và ruột già trong một lớp đơn để giúp phân giải và chuyển đi các phần tử thức ăn – KCMai) cũng phát triển mạnh ở những lợn trong các lô 3 và 4 (được ăn KD HCD 8 và 10% tính theo VCK). Nhìn chung, các khẩu phần đã cải thiện chức năng lá chắn của ruột non, ruột già và diện tích ruột non, làm giảm số lợn con thất thoát.

So với lô đối chứng dương (được bổ sung 2.500 ppm Zn), những lô ăn KD HCD được ủ lên men trước, bình quân tăng khối lượng ngày và hệ số chuyển hóa thức ăn đều tốt hơn, dẫn đến khối lượng lợn con cao hơn ở thời điểm cai sữa và lúc xuất mổ. Nhờ đó đã giảm được số lợn chết và giảm nhu cầu xử lý bằng kháng sinh.

Đối với khẩu phần được bổ sung tảo nâu, kết quả theo dõi cho thấy đã làm tăng khối lượng cai sữa của lợn con, nhưng giảm bình quân tăng khối lượng ngày từ ngày 31 đến ngày 64 sau cai sữa, do đó, làm giảm khối lượng xuất mổ thịt. Bổ sung tảo nâu đã phong tỏa ảnh hưởng kích thích của KD HCD được ủ lên men trước đến chiều dài lông nhung màng ruột và chiều cao enterocyte, nhưng không ảnh hưởng đến chức năng lá chắn của ruột.

Khuất Chi Mai

Bài viết liên quan